Nghiên cứu - Trao đổi

1. Những tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với GDNN

Chất lượng đào tạo nghề (ĐTN) là chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật được ĐTN theo mục tiêu và chương trình dạy nghề và được xem xét ở hai mặt: - Kết quả đào tạo (ĐT) của nhà trường theo mục tiêu ĐT (chủ quan); - Hiệu quả sử dụng của cơ sở sản xuất dịch vụ, thông qua thị trường lao động (TTLĐ) (khách quan).

Đặt vấn đề
Với mục tiêu đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học theo hướng chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, các trường đại học đã đưa ra nhiều đề xướng đổi mới nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao đối với giáo dục đại học.

1. Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy nghề
1.1. Về số lượng và chất lượng
Giai đoạn 2011 - 2015, đội ngũ Giáo viên dạy nghề (GVDN) đã tăng khá nhanh về số lượng và chất lượng cũng dần được nâng cao để đáp ứng yêu cầu dạy nghề 3 cấp trình độ đào tạo.

Bối cảnh
Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp (GDNN) là phát triển lực lượng lao động lành nghề nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Đào tạo nghề cần trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết theo tiêu chuẩn nghề, phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp nhằm giúp họ sau khi tốt nghiệp tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm.

Mở đầu
Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) có sứ mệnh đào tạo khoảng 70% nhân lực cho đất nước. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, GDNN đã phát triển mạnh mẽ ở nước ta, tuy nhiên còn nhiều bất cập như: Đào tạo chưa gắn với nhu cầu của thị trường lao động, với việc làm, dẫn đến tình trạng hàng năm có hàng vạn học sinh/sinh viên (HS/SV) tốt nghiệp không tìm được việc làm, trong khi các doanh nghiệp (DoN) cần nhân lực lại không tuyển dụng được lao động; Tổ chức quá trình đào tạo theo chương trình khung cứng nhắc, chưa liên thông giữa các trình độ và đang đào tạo theo niên chế nên chưa tạo thuận lợi cho người lao động có thể cần gì học nấy, học suốt đời.

Ngày 27 tháng 11 năm 2014, Luật Giáo dục nghề nghiệp đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 7 năm 2015. Có thể nói, đây là một đạo luật đã thể chế hóa mạnh mẽ chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung, giáo dục nghề nghiệp nói riêng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI, giải quyết nhiều bất cập trong thực tiễn, tạo nên một diện mạo mới của hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế.

Khi nói đến đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, phát triển kỹ năng nghề nghiệp người ta thường bị vướng vứu vào nhiều thuật ngữ có liên quan như là kỹ năng, kỹ năng nghề, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng cứng, kỹ năng mềm .v.v… Do không hiểu đúng nội hàm của những khái niệm đó, nên đã có những quan niệm hoặc tiếp cận sai lệch về những vấn đề xung quanh phát triển nguồn nhân lực. Bài viết dưới đây, trình bày những nghiên cứu về nội hàm của những thuật ngữ này.

1. Cơ sở pháp lý để thực hiện hợp tác giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp
1.1. Các văn kiện của Đảng
Văn kiện Đại hội XII khảng định để Phát triển nhanh bền vững sớm đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại một trong những định hướng lớn cần thực hiện quyết liệt là:

1. Thực trạng
1.1. Khu công nghiệp và nhu cầu nhân lực
Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước và từ thực tiễn phát triển của Việt Nam cho thấy, tổ chức sản xuất công nghiệp tập trung tại các KCN đã thật sự mang lại nhiều hiệu quả to lớn.

Trong xu thế hội nhập, nhân lực nói chung, nhân lực kỹ thuật trực tiếp nói riêng ngày càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển cũng như năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm tới là đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Do vậy, trong bối cảnh hiện nay, nâng cao chất lượng dạy nghề là nhiệm vụ trọng tâm của cả ngành lao động, thương binh và xã hội trong giai đoạn tới.

1. Đặt vấn đề
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những mục tiêu lớn của giáo dục nghề nghiệp đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới phương pháp bắt đầu từ việc cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống theo hướng phát huy tính tích cực của người học, hướng vào người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu vận dụng các lý thuyết mới, quan điểm mới về dạy học như lý thuyết tình huống, lý thuyết kiến tạo, dạy học dự án, lấy người học làm trung tâm,…là một hướng được nhiều nhà sư phạm lựa chọn.

Page 1 of 2

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Trưởng Ban biên tập: TS. Vũ Xuân Hùng - Viện trưởng

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. vàThis email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020

Bản đồ