Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”. Cụ thể hóa chủ trương này, giáo dục nghề nghiệp đã thực hiện giảng dạy môn học Pháp luật là một trong những nội dung quan trọng của đào tạo nghề.

 1. Ý NGHĨA, VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

Giáo dục Pháp luật trong khoa học pháp lý được xem là hoạt động có tính định hướng của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội, trong đó người giáo dục và người được giáo dục luôn có tác động qua lại lẫn nhau, thiết lập  hành vi sử sự phù hợp với quy phạm pháp luật. Hoạt động giáo dục pháp luật nhằm hình thành ở con người thói quen sử sự phù hợp với các yêu cầu của pháp luật. Về mặt tri thức giáo dục pháp luật giúp người học hình thành tình cảm, lòng tin và thái độ đúng đắn với Pháp luật, giúp con người tổ chức một cách có ý thức hành động của mình và tự đánh giá, kiểm tra, đối chiếu hành vi với các chuẩn mực pháp luật. Về mặt cảm xúc giáo dục pháp luật chính là giáo dục tình cảm, tính công bằng, ý thức biết tuân thủ pháp luật, biết ủng hộ, tích cực tham gia bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bài trừ thái độ coi thường không tuân thủ pháp luật.

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Trong công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, công tác này càng có vai trò quan trọng về nhiều mặt. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”.

Cùng với sự pháp triển về văn hóa – xã hội và kinh tế công tác giáo dục pháp luật ngày càng được quan tâm và được coi là nhiệm vụ quan trọng góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân.Tháng 6 năm 2012, Luật Phổ biến giáo dục pháp luật ra đời đã quy định và khẳng định hơn nữa quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân; nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và các điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Giáo dục pháp luật góp phần đem lại cho con người có tri thức pháp luật, xây dựng tình cảm pháp luật đúng đắn và có hành vi hợp pháp, biết dùng pháp luật làm phương tiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện cho quá trình quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Giáo dục pháp luật trong trường học có vai trò to lớn đối với sự phát triển toàn diện con người Việt Nam. Bác Hồ đã dạy: “ Có tài mà không có đức thì là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”. Xét trên mọi phương diện giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục pháp luật góp phần quan trọng tạo nên nhân cách mỗi con người.

Bởi thế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp luôn coi môn học Pháp luật là một trong những nội dung quan trọng của đào tạo nghề, nhằm mục tiêu giáo dục toàn diện người lao động và môn học Pháp luật là môn học bắt buộc trong chương trình dạy nghề dài hạn.

2. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CỦA NƯỚC TA VÀ XU HƯỚNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ.

Năm 2015 luật Giáo dục nghề nghiệp được ban hành, cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân, làm thay đổi hệ thống GDNN hiện hành. Để đảm bảo tính thống nhất, luật Giáo dục nghề nghiệp quy định:

- GDNN đào tạo 3 cấp trình độ: Sơ cấp, trung cấp và cao đẳng.

-  Cơ sở GDNN gồm: Trung tâm GDNN, trường trung cáp và trường cao đẳng.

- Việc tổ chức dào tạo được thực hiện theo 3 phương thức: Đào tạo theo niên chế, tích lũy modul hoặc tích lũy tín chỉ.

- Các cơ sở GDNN được tự chủ xây dựng chương trình đào tạo dựa trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ năng nghề, chuẩn đầu ra cho từng nghề

Từ ngày 1/1/2017 các trường trung cấp chuyên nghiệp và các trường cao đẳng được Chính phủ thống nhất chính thức bàn giao chức năng quản lý Nhà nước về giáo dục nghề nghiệp cho bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, cơ sở GDNN đã tăng lên: 

+ Theo báo cáo của Bộ LĐTBXH tính đến tháng 3/2018 cả nước có 1974 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cụ thể: 388 trường cao đẳng; 551 trường trung cấp; 1035 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, ngoài ra còn có  hơn 150 Trung tâm dịch vụ việc làm và hàng ngàn lớp Dạy nghề tại các cơ sở sản xuất.

+ Tổng số đội ngũ nhà giáo GDNN là 67.686 người, trong đó nhà giáo trong hệ thống các cơ sở GDNN là 45.824 người (67,7%); nhà giáo trong các cơ sở khác có dạy nghề là 21.862 người (32,3%). Số nhà giáo có trình độ thạc sỹ trở lên là 15.934 người ( 23,54%), số nhà giáo có trình độ đại học, cao đẳng, cao đẳng nghề là 36.565 người (54,02%).

    Trước yêu cầu mới của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm tới là đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tiến bộ của khoa học - công nghệ. Mặt khác, việc Việt Nam ký kết và gia nhập các Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương thế hệ mới, đã đặt ra cho nước ta nhiều  thách thức trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Dự báo đến năm 2025, lao động Việt Nam sẽ có sự dịch chuyển nhanh từ ngành nông nghiệp sang ngành công nghiệp và dịch vụ, trong đó chủ yếu chuyển sang ngành dịch vụ. Mục tiêu của chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2016 -2020 xác định: “Đến năm 2020, GDNN đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu ngành nghề và chất lượng đào tạo, trong đó tập trung đào tạo các ngành nghề trọng điểm đạt trình độ của các nước khu vực ASEAN và thế giới, tạo sự đột phá về chất lượng nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cạnh tranh, thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, nâng tỷ lệ người lao động qua đào tạo nghề lên 63%”. Thực hiện mục tiêu này, Nhà nước, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã đưa ra các chính sách nhằm phát triển hệ thống GDNN:

+ Phát triển hệ thống GDNN mở, linh hoạt, đa dạng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, liên thông giữa các trình độ GDNN và các trình độ khác.

+ Ưu tiên đồng bộ cho đào tạo nhân lực thuộc các ngành, nghề trọng điểm quốc gia, các ngành, nghề tiếp cận với các trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế;

+ Thực hiện cơ chế đấu thầu, đặt hàng đào tạo đối với các ngành nghề đặc thù, những ngành, nghề thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn; những ngành nghề thị trường lao động cần nhưng khó xã hội hóa.

+ Chương trình đào tạo được xây dựng theo định hướng năng lực thực hiện; việc tổ chức đào tạo cũng được nhiều cơ sở GDNN áp dụng theo phương thức đào tạo mới (đào tạo theo mô đun, tín chỉ), lấy người học làm trung tâm, tăng cường tính chủ động cho người học.

3. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HỌC TẬP PHÁP LUẬT TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

3.1. Nội dung môn học pháp luật trong các cơ sở GDNN

Quán triệt Chỉ thị số 32-CT/TW, các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong các cơ sở dạy nghề, với mục tiêu đào tạo ra những người lao động không chỉ có chuyên môn vững vàng mà còn am hiểu Pháp luật. Hầu hết, các cơ sở đào tạo nghề trong cả nước đều thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh – sinh viên. Cùng với sự phát triển của đất nước, của khoa học kỹ thuật, xã hội ngày càng đòi hỏi người lao động có trình độ tay nghề cao. Chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng luôn được nghiên cứu và đổi mới đáp ứng sự thay đổi, chuyển mình của xã hội, phục vụ đúng những đòi hỏi của người học sau khi rời ghế nhà trường tham gia vào lực lượng lao động.

-  Quyết định số 1137/2003/QĐ-BLĐTBXH về việc ban hành chương trình pháp luật dùng chung cho các trường, lớp dạy nghề dài hạn.

+ Theo quyết định này, đối với những khóa học 36 tháng, thì môn học Pháp luật là 45 tiết (41 tiết lý thuyết, 2 tiết thảo luận, 2 tiết kiểm tra), nội dung gồm có 2 phần chính với 10 bài học (phần 1: Một số vấn đề chung gồm 4 bài: Một số nội dung cơ bản về Nhà nước và Pháp luật; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Hệ thống pháp luật và quan hệ pháp luật; Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý. Phần 2: Pháp luật cụ thể có 6 bài học: giới thiệu về luật Lao động; luật Hành chính; luật Dân sự; luật Doanh nghiệp; luât Giáo dục; luật Công Đoàn.

 + Đối với khóa học 24 tháng và 30 tháng, môn học Pháp luật là 30 tiết (27 tiết lý thuyết, 1tiết thảo luận, 2 tiết kiểm tra). Nội dung ở phần 1 bỏ bớt công dân nước công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phần quan hệ pháp luật.

+ Đối với khóa học 12 tháng và 18 tháng, môn học Pháp luật là 15 tiết (13 tiết lý thuyết, 1 tiết thảo luận, 1 tiết kiểm tra). Nội dung ở phẩn 1 bỏ bớt phần hệ thống pháp luật so với khóa học 24 tháng và ở phần 2 Pháp luật cụ thể thì chỉ học các phần luật Lao động; luật Doanh nghiệp; luật Công đoàn.

Như vậy, trong thời kỳ này nội dung pháp luật được các cơ sở dạy nghề trang bị cho học viên tương đối đầy đủ, góp phần giáo dục toàn diện, nâng cao ý thức và trách nhiệm công dân, ý thức tôn trọng và bảo vệ luật pháp quốc gia. Tuy nhiên việc phân bổ thời gian học còn thiên nhiều về lý thuyết, các nội dung thực hành, thảo luận để đưa giáo dục pháp luật đến gần đời sống, gắn lý thuyết với việc giải quyết các tình huống pháp luật trong thưc tế còn quá ít (mỗi chương trình chỉ có từ 1 đến 2 tiết thảo luận).

- Ngày 18/02/2008 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành quyết định 04/2008/QĐ – BLĐTBXH về chương trình môn học pháp luật dùng trong các trường cao đẳng nghề và trung cấp nghề (thay thế cho QĐ 1137/2003/QĐ – BLĐTBXH).Theo Quyết định này nội dung môn học pháp luật cho trình độ trung cấp nghề là 15 giờ (11 giờ lý thuyết,4 giờ thảo luận và 1 giờ kiểm tra) với 4 bài học chính. Ở trình độ cao đẳng nghề là 30 giờ (21 giờ lý thuyết, 7 giờ thảo luận và 2 giờ kiểm tra). Như vậy, trong thời kỳ này, phù hợp với chương  trình khung trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề, việc học tập theo niên chế được chuyển sang modul (QĐ 01/2007/BLĐTBXH) là nhằm mục tiêu giáo dục toàn diện người lao động trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Chương trình giáo dục pháp luật của hệ thống giáo dục nghề nghiệp đã chú trọng nhiều hơn đến phần thảo luận, thực hành để người học có nhiều cơ hội được tiếp cận với những tình huống pháp luật trong thực tế hơn. Tuy nhiên phần kiến thức trang bị cho người học lại quá ít, như ở môn Pháp luật của trình độ trung cấp nghề chỉ trang bị một số kiến thức cơ bản về Nhà nước và pháp luật, một số nội dung cơ bản về luật dạy nghề và pháp luật lao động.

- Căn cứ vào chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 12/06/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy trong các cơ sở giáo dục, đào tạo từ năm học 2013 – 2014. Ngày 22/04/2014 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành thông tư 08/2014/TT-BLĐTBXH về việc ban hành chương trình, giáo trình môn học pháp luật dùng trong trình độ đào tạo cao đẳng nghề, trình độ đào tạo trung cấp nghề (thay thế cho QĐ 04/2008/QĐ – LĐTBXH). Theo thông tư này, Ở  mỗi trình độ đào tạo đều được thêm vào một bài học về luật Phòng, chống tham nhũng, và thời gian học thảo luận ở mỗi trình độ bớt đi một giờ và thay vào đó là thời gian học lý thuyết. Cụ thể, cao đẳng nghề, môn học Pháp luật gồm 30 giờ học (22 giờ lý thuyết, 6 giờ thảo luận và 2 giờ kiểm tra), nội dung gồm có 9 bài học: Giới thiệu chung về Nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam; Luật Nhà nước (luật Hiến pháp); Luât dạy nghề; pháp luật Lao động; pháp luật Kinh doanh; pháp luật Dân sự và luật Hôn nhân gia đình; luật Hành chính và pháp luật Hình sự; luật Phòng, chống tham nhũng. Ở trình độ trung cấp, môn học Pháp luật có 15 giờ (lý thuyết: 11 giờ, thảo luận: 3 giờ, kiểm tra: 1 giờ), nội dung gồm có 5 bài học: Một số vấn đề chung về nhà nước và pháp luật; Nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam; Luật Dạy nghề; pháp luật Lao động; Luật Phòng, chống tham nhũng.

Đánh giá chung của các cơ sở đào tạo nghề trong cả nước, nhìn chung chương trình đào tạo pháp luật trong các cơ sở đã trang bị được đầy đủ kiến thức cơ bản, cần thiết về pháp luật cho người lao động, đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng lao động trong giai đoạn nước ta đang nỗ lực đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và thu hẹp khoảng cách phát triển trong tiến trình hội nhập.

 Không những thế, nhận biết được tầm quan trọng của giáo dục pháp luật cho học sinh – sinh viên, theo luật Giáo dục nghề nghiệp (các cơ sở GDNN được tự chủ xây dựng chương trình đào tạo dựa trên chuẩn kỹ năng nghề, chuẩn đầu ra cho từng nghề), trong quá trình đào tạo nghề, đào tạo chuyên môn tại trường, ngoài việc giảng dạy môn học pháp luật là môn học chung, bắt buộc theo quy định của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, nhiều cơ sở đào tạo đã xác định đưa thêm các môn luật chuyên ngành vào giảng dạy. Như một số cơ sở đào tạo chuyên ngành Kế toán có đưa môn luật Kế toán vào giảng dạy; cơ sở đào tạo ngành khách sạn, nhà hàng có đưa môn luật An toàn phẩm vào giảng dạy; v.v…

3.2. Phương pháp giảng dạy và học tập pháp luật trong các cơ sở GDNN

Trước đây, với chương trình giáo dục pháp luật mà Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành (theo Quyết định 1137/2003/QĐ-LĐTBXH), thì chủ yếu việc giảng dậy pháp luật chính khóa cho học viên là lý thuyết, phương pháp giảng dạy chính của giáo viên là phương pháp truyền thống (thuyết giảng) mà ít có thời gian để đưa các tình huống pháp luật thực tế vào thời gian học chính khóa để học viên được thực hành, do thời gian dành cho thảo luận ở các chương trình đào tạo pháp luât này là rất ít chỉ  2 tiết/45 tiết đối với lớp học 36 tháng và chỉ 1 tiết/30 tiết đối với các lớp học từ 18 – 24 tháng.

Tuy nhiên, cùng với quá trình đổi mới giáo dục nghề nghiệp, sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật trong chương trình giáo dục chính khóa tại các trường đào tạo nghề trong thời gian qua đã có những thay đổi:

+ Công cụ hỗ trợ giảng dạy thay vì phấn, bảng, giáo án, ngày nay các giảng viên còn có thêm máy chiếu giảng Projecter, máy tính, internet hỗ trợ. Chính vì thế bài giảng trên lớp của các giảng viên trở nên cuốn hút hơn đối với người học vì có nhiều hình ảnh, clip minh họa cho mỗi bài giảng.

+ Phương pháp giảng dạy chuyển dần từ phương pháp truyền thống (diễn giảng) truyền thụ một chiều sang phát huy tính tích cực của sinh viên (giảng viên sử dụng các phương pháp đặt vấn đề, thảo luận, làm việc nhóm. v.v…) . Nhiều giảng viên đã đưa ra những tình huống cụ thể và sáng tạo những phương pháp mới nhằm tăng cường tính tích cực, sáng tạo của học sinh - sinh viên trong học tập, tạo hứng thú và nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật.

Đi liền với phương pháp giảng dạy của giáo viên, giảng viên là phương pháp tiếp thu kiến thức học tập của học sinh – sinh viên. Nếu trước kia đào tạo theo học chế niên chế, phương pháp giảng dạy của giảng viên là thuyết giảng thì học sinh sinh viên thường học tập theo cách tiếp thu và học thuộc lòng kiến thức. Thì từ khi Bộ LĐTBXH và Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp thay đổi phương thức đào từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ,modul – Là bước chuyển đổi tất yếu, khách quan – của giáo dục nghề nghiệp Việt Nam theo xu thế hội nhập quốc tế, phương pháp học tập của học sinh – sinh viên có nhiều thay đổi. Với chương trình đào tạo theo tín chỉ, mỗi học sinh – sinh viên cần ý thức rõ yếu tố tự học, tự nghiên cứu là quan trọng nhất, thời lượng chương trình giảng dạy trên lớp sẽ bị rút ngắn (mặc dù chuyển từ đào tạo niên chế sang tín chỉ, song dung lượng tri thức ở từng môn học hầu như không đổi), thời gian còn lại để học sinh – sinh viên có thời gian tự học, tự nghiên cứu tài liệu. Song do hạn chế thời lượng lên lớp, GV không có quỹ thời gian trên lớp để tiếp xúc, hướng dẫn, trao đổi, giải đáp những vướng mắc khi học sinh – sinh viên gặp phải nên đây cũng là trở ngại trong dạy học môn Pháp luật.

3.3. Những tồn tại trong nội dung, phương pháp giảng dạy học tập pháp luật của các cơ sở GDNN

Bên cạnh những mặt mạnh như trên, thì nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật chính khóa trong các trường nghề còn một số hạn chế như sau:

- Nội dung chương trình pháp luật mới được đánh giá là đã phù hợp với yêu cầu đào tạo của các trường nghề trong xu thế hội nhập. Tuy nhiên thời lượng chương trình còn ít (chương trình môn học Pháp luật trình độ cao đẳng nghề có 22 tiết lý thuyết/9 bài học), và như vậy thời gian trên lớp giảng viên chỉ có thể giới thiệu sơ lược về pháp luật cho học sinh sinh viên,do đó người học cũng chỉ biết được sơ lược về Pháp luật, chính điều này làm môn học Pháp luật chưa phát huy được hết vai trò của nó trong các trường nghề là tạo ra những người lao động toàn diện giỏi chuyên môn và hiểu pháp luật. Song việc tăng thời lượng học tập chomôn học Pháp luật cũng không phải dễ, vì với thời gian đào tạo định sẵn, việc tăng thời lượng học tập cho môn học này thì phải giảm thời lượng học tập của các môn học khác.

- Theo báo cáo Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam năm 2016, tính đến ngày 31/12/2016 kết quả tuyển sinh của hệ thống GDNN đạt 2.367.654 người. Trong đó: Trình độ cao đẳng là 241.411 sinh viên (chiếm 10,2%); Trình độ trung cấp là 290.231 học sinh (chiếm 112,3%); Trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng là 1.836.012 người (chiếm 77,6%). Tuy nhiên, việc đào tạo Pháp luật lại chỉ mới dành cho hệ cao đẳng và trung cấp còn đối với trình độ sơ cấp nghề do thời gian học tối thiẻu là 300 giờ, khối lượng kiến thức, kỹ năng tối thiểu là 3 modul, nên việc giáo dục pháp luật cho đối tượng học sinh này chưa được các cấp quản lý quan tâm, mặc dù các cơ sở đào tạo nghề đều nhận định, việc giáo dục pháp luật cho học sinh sơ cấp nghề là rất cần thiết vì đối tượng này là lực lượng lao động chính, trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất, họ rất cần được trang bị kiến thức Pháp luật để điều chỉnh hành vi cũng như tự bảo vệ mình trong quá trình làm việc.

- Phương pháp giảng dạy cho học sinh sinh viên với sự bổ trợ của máy móc thiết bị hiện đại và công nghệ thông tin đã có nhiều thay đổi tích cực. Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy của giáo viên, giảng viên ở các trường nghề còn có những hạn chế như còn thiếu phương thức hướng dẫn sinh viên rèn luyện, tu dưỡng nhân cách theo những chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Phương pháp giảng dạy tương tác hai chiều kiểu thảo luận, tranh luận nêu các tình huống pháp luật thực tế còn ít được vận dụng, chủ yếu vẫn là phương pháp thuyết trình, truyền thụ một chiều, thụ động. Một số giảng viên, giáo viên chưa tính đến các quy luật nhận thức và điều kiện phát triển của học sinh - sinh viên trong hoạt động giáo dục, thiếu sự quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lý của các em, nên chưa chú trọng đến giáo dục những chuẩn mực cần thiết và những kỹ năng quan trọng trong đời sống xã hội. 

- Về phía học sinh, sinh viên, chuyển đổi sang học theo modul,tín chỉ là tạo sự chủ động cho người học. Trên thực tế, trong những năm gần đây  chất lượng đầu vào của SV còn thấp đã ảnh hưởng phần nào đến hiệu quả môn học, một bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên trong các cơ sở đào tạo nghề chưa thật sự chủ động trong học tập do nhiều nguyên nhân khác nhau. Các giảng viên, giáo viên đều đã vận dụng kết hợp nhiều phương pháp dạy học, trong đó có phương pháp dạy học truyền thống (phương pháp thuyết trình) và phương pháp dạy học tích cực (phương pháp đàm thoại, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, trực quan hình ảnh, hướng dẫn tự học,...). Tuy nhiên, việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực chưa đạt kết quả như mong muốn do thiếu sự hợp tác của sinh viên, cụ thể là phần lớn học sinh, sinh viên nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của tự học, ít đọc tài liệu, lười tư duy, ngại phát biểu, học đối phó, một số không làm bài tập giảng viên giao, không quan tâm kết quả học tập. Với thực trạng đó dễ dẫn đến tình trạng giảng viên độc thoại, bài giảng đôi lúc còn thiếu sinh động, gây nhàm chán cho học sinh, sinh viên. Thực tế này cho thấy, vai trò của GV dạy môn Pháp luật trong nhà trường là rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo hứng thú và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, sinh viên.

 

4.CÁC GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP PHÁP LUẬT TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP.

Để nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho sinh viên ở các trường đào tạo nghề hiện nay, đáp ứng yêu cầu về phẩm chất, năng lực chính trị trong tình hình mới, cần tập trung làm tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất: Tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình môn học pháp luật trong các trường nghề

- Xây dựng chương trình, nội dung bảo đảm tính chính trị, tính khoa học và tính giáo dục, với dung lượng chương trình môn pháp luật tương xứng với chức danh đào tạo và bậc học. Cần chủ động tiến hành nhiều hình thức, phương pháp gắn với từng nhiệm vụ, hoạt động cụ thể sát với đối tượng sinh viên.

- Thường xuyên đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học phù hợp với cấp học, thực tiễn pháp lý. Thường xuyên cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới, tổ chức tốt hoạt động chấp hành pháp luật; quán triệt và thực hiện nghiêm pháp luật. Xây dựng môi trường văn hóa pháp luật trong sạch, tự giác và nghiêm minh trong các nhà trường.

Thứ hai: Cần có sự quan tâm của Nhà nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp trong việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng (về mặt chính sách, nhân sự, cơ sở vật chất và tài chính), theo hướng:

- Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật cho học sinh trình độ sơ cấp cần được phổ biến vào buổi học chính trị đầu khóa  do cán bộ chuyên trách của ngành tư pháp thực hiện.

- Trong các buổi học chính khóa của trình độ sơ cấp nghề, với một số các ngành nghề  có thể lồng ghép đào tạo pháp luật vào chương trình học tập.

- Các học sinh trình độ sơ cấp được phát tài liệu hỏi - đáp về pháp luật liên quan đến ngành nghề đào tạo của mình.

Thứ ba: Kết hợp với các đơn vị chức năng thường xuyên tổ chức các hoạt động phổ biến Pháp luật ngoại khóa cho học sinh, sinh viên nhằm tăng cường hơn nữa hiểu biết pháp luật, đa dạng hóa các kênh truyền tải thông tin pháp luật phù hợp với từng đối tượng học sinh, sinh viên.

Thông tin pháp luật đóng vai trò rất quan trọng, có tác động rất lớn đến ý thức pháp luật, hành vi pháp luật và lối sống theo pháp luật của HSSV trong các nhà trường. Pháp luật sẽ không có tác dụng giáo dục nếu như thiếu các kênh truyền tải phong phú, đa dạng. Cụ thể như: kết hợp phổ biến giáo dục pháp luật với quá trình dạy học; lồng ghép việc phổ biến pháp luật vào các buổi học chính trị đầu khóa của học sinh, sinh viên; tăng cường giáo dục phổ biến pháp luật thông qua tuyên truyền miệng; qua các buổi sinh hoạt đoàn thể để phổ biến, giáo dục pháp luật; qua hệ thống tài liệu bao gồm sách, báo, băng đĩa về pháp luật; qua phương tiện truyền thanh, truyền hình để mọi sinh viên được nghe, xem trực tiếp nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật để nắm bắt kịp thời các thông tin pháp luật, các văn bản pháp luật mới; qua các cuộc ra quân tuyên truyền, cổ động; văn hóa, văn nghệ... 

Thứ tư: Tăng cường bồi dưỡng năng lực, phẩm chất của giảng viên, giáo viên

Đội ngũ giảng viên, giáo viên là nhân tố rất quan trọng, tác động đến chất lượng giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên ở các các trường nghề. Nhưng thực tế ở một số trường, đội ngũ này còn thiếu cả về số lượng và chất lượng. Điều này là chưa phù hợp với chuyên ngành đòi hỏi tính chuyên môn cao, chính xác về mặt thuật ngữ như pháp luậtcần chú trọng việc đào tạo, bổ sung, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên nhà nước và pháp luật nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này. Mặc khác, đội ngũ giảng viên phải tích cực tự học tập, nâng cao trình độ toàn diện đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ giáo dục đào tạo trong tình hình mới, tích cực đổi mới nội dung, phương pháp dạy học; giữ vững và phát huy phẩm chất nhà giáo, là tấm gương mẫu mực, mô phạm cho học sinh, sinh viên học tập.

Thứ năm: Tăng cường thực hiện nội dung tri thức giáo trình, làm sinh động bài giảng trên lớp

Giảng viên, giáo viên cần phải tăng cường hiện thực hóa nội dung tri thức giáo trình để làm sinh động nội dung bài giảng, thu hút sự chú ý của sinh viên, tức là phải gắn lý luận khoa học với thực tiễn sinh động để giải thích, chứng minh, phải tăng cường đưa các vấn đề thực tiễn về đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng vào từng nội dung dạy học. Để thực hiện giải pháp này, trước hết đòi hỏi giảng viên, giáo viên phải không ngừng bổ sung tri thức thực tiễn, thu thập các thông tin thực tiễn có liên quan đến bộ môn của mình để vận dụng, dẫn dắt sinh viên nhận thức và giải quyết các vấn đề đó. Thực hiện tốt phương pháp này sẽ làm cho bài giảng trở nên sinh động, sinh viên không bị nhàm chán, điều quan trọng là có tác dụng lớn trong việc nâng cao nhận thức đời sống thực tiễn cho sinh viên, kích thích tư duy của sinh viên trong việc nhận thức và giải thích các vấn đề thực tiễn đó.

Thứ sáu: phát huy tính tích cực, tự giác của sinh viên trong quá trình giáo dục pháp luật

- Chất lượng giáo dục pháp luật của học sinh, sinh viên phụ thuộc vào tính tích cực học tập, rèn luyện, tu dưỡng của chính học sinh, sinh viên. Giáo dục cho HSSV phát huy tính tích cực, tự giác, xây dựng động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn và thường xuyên nâng cao thái độ, trách nhiệm, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật đòi hỏi lãnh đạo các nhà trường, các phòng, ban chức năng, cũng như các khoa chuyên môn cần thường xuyên xây dựng kế hoạch, biện pháp giáo dục pháp luật cho sinh viên.

- Giảng viên, giáo viên cần tăng cường tính chủ động, tích cực, tự giác học tập của HSSV bằng cách hướng dẫn HSSV làm bài tập nhóm, hướng dẫn HSSV nghiên cứu trước tài liệu, giáo trình pháp luật ở nhà để giải quyết các bài tập tình huống trong thưc tế, thảo luận trên lớp. Tăng cường tính tương tác giữa HSSV và giáo viên.

- Thay đa dạng hóa hình thức lấy điểm kiểm tra định kỳ bằng cách kết hợp cả điểm kiểm tra tự luận với điểm vấn đáp, điểm thuyết trình kết quả tự học, học nhóm... tại lớp để khuyến khích tinh thần tự giác học tập của HSSV.

Bùi Thị Bích Thủy

 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Ban Bí thư Trung ương: Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 9-12-2003 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, 2003, tr.3.
  2. Báo cáo Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam năm 2015, Viện khoa học Giáo dục nghề nghiệp
  3. Báo cáo Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam năm 2016, Viện khoa học Giáo dục nghề nghiệp.
  4. Luật phổ biến Giáo dục pháp luật Luật số 14/2012/QH13.
  5. Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI.
  6. Quốc hội Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.1.
  7. Quyết định 1137/ 2003/QĐ – BLĐTBXH về việc ban hành chương trình Pháp luật dùng cho các trường, lớp dạy nghề dài hạn.
  8. Quyết định 04/2008/QĐ – BĐTBXH ban hành chương trình pháp luật dùng cho các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề.
  9. Thông tư 08/2014/TT – BLĐTBXH ban hành chương trình, giáo trình môn học Pháp luật dùng trong đào tạo trình độ trung cấp nghề và trình độ cao đẳng nghề.
  10. Website Bộ Lao đông – Thương binh và Xã hội: http://www.molisa.gov.vn.
  11. Website Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp: http://www.tcdn.gov.vn.
  12. Website Bộ Tư pháp: http://www.moj.gov.vn.
Last modified on Thứ ba, 24 Tháng 12 2019
  • Bình luận
  • Đọc 180 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Giấy phép thiết lập Website trên internet số 109/GP-TTĐT ngày 01/7/2019

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020