Đặt vấn đề
Với mục tiêu đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học theo hướng chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, các trường đại học đã đưa ra nhiều đề xướng đổi mới nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao đối với giáo dục đại học.

Theo đó, các cơ sở giáo dục đại học cần áp dụng những phương pháp tiếp cận tiên tiến để phát triển chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế. Nhằm thực hiện những mục tiêu nêu trên, một trong những hướng đổi mới là áp dụng phương pháp tiếp cận CDIO như một khung chuẩn phát triển chương trình đào tạo, một công nghệ đào tạo tiên tiến để đáp ứng nhu cầu xã hội, đáp ứng các chuẩn mực chất lượng quốc tế.

1. Những yêu cầu đặt ra đối với đào tạo giáo viên trong xu thế hội nhập

Toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ và là một xu thế tất yếu đối với sự phát triển của thế giới ngày nay. Vai trò của nó đang ngày càng được khẳng định trong việc thúc đẩy sự giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và an ninh mà không một quốc gia nào nằm ngoài xu thế đó. “Toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối quan hệ có ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực các quốc gia, các dân tộc trên thế giới”. Trong toàn cầu hóa thì các chương trình hợp tác đào tạo nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, có khả năng tiếp nhận, chuyển giao và ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới sẽ góp phần nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ những người làm khoa học hiện có và phát triển đội ngũ các nhà khoa học công nghệ.
Từ tháng 12/2015, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập từ cuối tháng 12/2015 đã mang lại nhiều cơ hội thuận lợi nhưng đồng thời cũng mang lại nhiều khó khăn thách thức cho nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học ở Việt Nam.
. Thỏa thuận công nhận lẫn nhau (Mutual Recognition Arrangements - MRAs) là những công cụ chính để di chuyển lao động trong khuôn khổ AEC. Những thỏa thuận này giúp những người hành nghề có kỹ năng hoặc kinh nghiệm phù hợp để được chứng nhận và làm việc tại nước ngoài. Đến nay, đã có thỏa thuận trong 8 lĩnh vực nghề: dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ điều dưỡng, dịch vụ kiến trúc, dịch vụ khảo, hành nghề y khoa, hành nghề nha khoa và dịch vụ kế toán, hành nghề du lịch. Trong những năm tới việc di cư lao động có kỹ năng vừa và thấp có khả năng vẫn tiếp tục gia tăng về số lượng ngành nghề và số lượng người lao động.
Bối cảnh đó, đòi hỏi giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học Việt Nam phải tiến hành nhiều giải pháp hội nhập được với các nước trong khu vực, trong đó có nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên theo yêu cầu hội nhập là một trong những giải pháp được ưu tiên để đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế.
Phương pháp CDIO được nhiều trường đại học trên thế giới nghiên cứu và áp dụng, tạo ra chuẩn mực chung cho đào tạo đại học. Việc đào tạo theo tiếp cận này sẽ giúp cho các trường đại học hội nhập được với đào tạo của khu vực và thế giới.
2. Tiếp cận CDIO – hướng mới trong đào tạo giáo viên theo xu thế hội nhập
2.1. Khái quát về CDIO
CDIO là viết tắt của các từ: Conceive - hình thành ý tưởng, Design - thiết kế, Implement – triển khai và Operate - vận hành, xuất phát từ ý tưởng của các khối ngành kỹ thuật thuộc 4 trường đại học (ĐH), Học viện: ĐH Công nghệ Chalmers ở Göteborg, Học viện Công nghệ Hoàng gia ở Stockholm, ĐH Linköping (Thụy Điển) và Học viện Công nghệ Massachusetts (Hoa Kỳ) vào những năm 1990. Hồ Tấn Nhựt, Trường ĐH Northridge (Hoa Kỳ) cho rằng: CDIO là một đề xướng quốc tế lớn được hình thành để đáp ứng nhu cầu một thập kỷ mới của các doanh nghiệp và các bên liên quan khác trên toàn thế giới trong việc nâng cao khả năng của sinh viên (SV) tiếp thu các kiến thức cơ bản, đồng thời đẩy mạnh việc học các kỹ năng cá nhân và giao tiếp, kỹ năng kiến tạo sản phẩm, quy trình và hệ thống.
Tiếp cận CDIO trong dạy học kĩ thuật thể hiện ở việc đào tạo SV trở thành người kĩ sư tốt nghiệp toàn diện, hiểu được cách thức Hình thành ý tưởng – thiết kế - triển khai – vận hành những sản phẩm, quy trình, và hệ thống kĩ thuật phức hợp, có giá trị gia tăng, trong môi trường hiện đại, làm việc theo nhóm. Đó là nền tảng và bối cảnh của GD kĩ thuật, là vai trò nghề nghiệp của kĩ sư và cũng là bối cảnh tự nhiên của việc giảng dạy kĩ năng, thái độ hướng nghiệp kĩ thuật chủ yếu. Triết lí đó đã định hướng một phương pháp tiếp cận tích hợp để xác định nhu cầu học tập của SV và xây dựng một chuỗi kinh nghiệm học tập để đáp ứng nhu cầu này, đồng thời định hướng việc xây dựng một chương trình học hiệu quả.
2.2. Sự cần thiết áp dụng CDIO trong đào tạo giáo viên tại các trường đại học sư phạm kỹ thuật
Phương pháp tiếp cận “CDIO” (gọi tắt là tiếp cận “CDIO”) là cách thức tiếp cận một mô hình lí thuyết về đào tạo theo định hướng năng lực đầu ra trong các trường đại học kĩ thuật. Mô hình lí thuyết này cung cấp cơ sở khoa học và một hệ thống các tiêu chuẩn chất lượng đảm bảo cho các cơ sở GDĐH kĩ thuật giải quyết được 2 vấn đề trọng tâm: (1) SV kĩ thuật nên đạt được các kiến thức, kĩ năng, thái độ toàn diện nào khi rời khỏi trường đại học, và đạt được ở trình độ năng lực nào? và (2) Làm thế nào để chúng ta có thể làm tốt hơn trong việc đảm bảo SV đạt được những kĩ năng ấy?
Tiếp cận “CDIO” trong đào tạo GV vừa phải phản ánh được căn cứ lí luận khoa học GD đang được vận dụng phổ biến trong đào tạo đại học trên thế giới, đó là những triết lí, quan điểm, lí thuyết tiến bộ về dạy học: Tiếp cận năng lực; đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội; Hướng vào người học; Hướng tới mục tiêu GD suốt đời; đảm bảo tính dân chủ, nhân văn trong GD; Hoạt động hóa và phát huy tính tự chủ của người học... đồng thời vừa phải được xây dựng trên cơ sở hoạt động thực tiễn đào tạo GVDN trong các trường SPKT ở Việt Nam, đó là: Hệ thống chuẩn NVSP của giáo viên trong các nhà trường GDNN; Các cơ sở DN; Và đặc biệt là cần dựa vào yêu cầu của thực tiễn nghề nghiệp giáo viên nói chung và GVDN nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế. MHDH theo tiếp cận “CDIO” thể hiện được sự hội nhập mạnh mẽ với hệ thống GD kĩ thuật của quốc tế nhằm hướng tới một chuẩn mực đào tạo GVDN đáp ứng chuẩn đầu ra, phản ánh một tầm nhìn rộng hơn về nghề nghiệp GVDN, đáp ứng được các chuẩn văn bằng quốc gia, ngành hay tiêu chuẩn kiểm định quốc tế.
Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO gắn với nhu cầu của người tuyển dụng, từ đó giúp thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo của nhà trường và yêu cầu của nhà sử dụng nguồn nhân lực. Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO sẽ giúp người học phát triển toàn diện với các “kỹ năng cứng” và “kỹ năng mềm” để nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc luôn thay đổi và thậm chí là đi đầu trong việc thay đổi đó.
Theo Hiệp hội CDIO, hiện nay có 116 đại học, trường đại học trên thế giới áp dụng CDIO. Ở Việt Nam, Trường Đại học Bách Khoa, Trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bình Dương, …đã áp dụng phương pháp tiếp cận này để đào tạo không chỉ chuyên ngành kỹ thuật mà cả các ngành ngoài ngành kỹ thuật, các ngành đào tạo giáo viên. Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh áp dụng đào tạo theo CDIO tất cả các ngành, trong đó có ngành sư phạm áp dụng từ năm 2013.
2.3. Những nội dung cơ bản về đào tạo giáo viên theo CDIO
1) Xây dựng chuẩn đầu ra theo CDIO
Chuẩn đầu ra (CĐR) đối với những ngành đào tạo kỹ sư theo mô hình CDIO được xây dựng dựa vào việc khảo sát, nghiên cứu yêu cầu thị trường, được thể hiện ở 4 khối kiến thức, kỹ năng chính: (1) kiến thức chuyên ngành và lập luận kỹ thuật (technical knowledge and reasoning); (2) kỹ năng, thái độ cá nhân và nghề nghiệp (professional and personal skills and attitudes), (3) kỹ năng, thái độ XH (interpersonal skills and attitudes); (4) kiến thức, kỹ năng CDIO trong bối cảnh XH và doanh nghiệp (CDIO in social and enterprise context). Ba nhóm kiến thức, kỹ năng đầu làm nền tảng cho nhóm kiến thức, kỹ năng thứ 4. Nghĩa là, khi đó SV tốt nghiệp sẽ đạt được CDIO: hình thành ý tưởng – thiết kế ý tưởng – thực hiện – vận hành
Chuẩn đầu ra của sinh viên được chuyển tải bằng việc xây dựng một chuỗi phương án tích hợp dạy và học, nghĩa là, tạo điều kiện cho sinh viên trải nghiệm những tình huống mà người kỹ sư/cử nhân sẽ gặp phải trong nghề nghiệp theo ngành đào tạo của họ.
Cấu trúc chuẩn đầu ra theo CDIO gồm 4 cấp độ, cấp độ 1 gồm 4 tiểu cấu trúc như đã trình bày ở trên, cấp độ 4 là chuẩn đầu ra của môn học/học phần/module. Chuẩn đầu ra đào tạo GV gồm 2 nội dung:
+ Chuẩn đầu ra về chuyên ngành đào tạo
+ Chuẩn đầu ra về nghiệp vụ sư phạm giáo dục nghề nghiệp.
2) Phát triển chương trình đào tạo theo CDIO
Tiếp cận CDIO chỉ ra sự khác biệt về phương pháp tiếp cận để xây dựng nội dung của chương trình đào tạo. Quá trình xây dựng chương trình đào tạo phải căn cứ vào chuẩn đầu ra để thiết kế thành các môn học/học phần cụ thể. Mỗi một nội dung của chuẩn đầu ra được thực hiện ở một môn học/học phần, module. Một môn học/học phần, module sẽ thực hiện một số nội dung chuẩn đầu ra (có thể ở 1, 2 hoặc 3 chuẩn đầu ra cấp độ 1). Vì vậy chương trình thường được tích hợp, các kỹ năng được tích hợp ở các môn học hoặc dự án học tập mà ít tách riêng thành các môn học thực hành.
Quá trình đó có thể được thể hiện qua bảng sau:

Bảng1: Minh họa đối ứng chuẩn đầu ra – môn học/học phần/module

Chuẩn đầu ra cấp 1  Chuẩn đầu ra cấp 2 Chuẩn đầu ra cấp 3 Chuẩn đầu ra cấp 4  (môn học/học phần) Môn học/học phần/module (ghi theo mã môn học/họcphần) Ghi chú
1. Kiến thức và lập luận kỹ thuật và sư phạm giáo dục nghề nghiệp




1.1.



1.1.1

1.1.1.1 I.1 Tên môn học/học phần để thực hiện chuẩn 1.1.1 (có thể là 1 hoặc có thể là 2)

1.1.1.2 I.1
1.1.2 1.1.2.1 II.1  
1.1...      
1.2. 1.2.1      

Như vậy, mỗi môn học/học phần phải thực hiện một hoặc một một số chuẩn đầu ra. Nếu môn học/học phần trong chương trình đào tạo đã có mà không chỉ ra được việc thực hiện nội dung của chuẩn đầu ra thì cần chỉnh sửa, bổ sung hoặc loại bỏ khỏi chương trình đào tạo.
Quá trình phát triển chương trình đào tạo được thực hiện theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1: Phát triển chương trình đào tạo theo CDIO

3) Tổ chức đào tạo và đánh giá theo CDIO
Chương trình đào tạo theo CDIO vẫn được thiết kế tích hợp thành các môn học,, học phần và thực hiện theo tích lũy tín chỉ. Vì vậy, việc tổ chức quá trình đào tạo được thực hiện theo phương thức tích lũy tín chỉ.
Trong đào tạo theo CDIO, vai trò của người thầy và cách học của SV có nhiều thay đổi. PPDH triển vọng là dựa vào người học và hoạt động của họ.
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm mà cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Mỗi môn học/học phần/module phải giúp cho SV làm được việc gì, xử lý các tình huống thực tiễn.
Kết luận
Đào tạo theo CDIO là mô hình gắn kết cơ sở đào tạo với yêu cầu của người tuyển dụng, từ đó thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo của nhà trường và yêu cầu của nhà sử dụng nguồn nhân lực; giúp người học phát triển toàn diện với các “kỹ năng cứng” và “kỹ năng mềm” để nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc luôn thay đổi và thậm chí là đi đầu trong việc thay đổi đó; giúp các chương trình đào tạo được xây dựng và thiết kế theo một quy trình chuẩn; các công đoạn quá trình đào tạo có tính liên thông và gắn kết khoa học chặt chẽ. Việc áp dụng phương pháp tiếp cận “CDIO” trong đào tạo giáo viên ở các trường đại học sư phạm kỹ thuật giúp cho SV khi tốt nghiệp đáp ứng được yêu cầu của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Như vậy, đào tạo theo CDIO là hướng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế.

Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về “Ðổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập Quốc tế”.
2. Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, (2010) Thông tư quy định chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề số 30/2010/TT-BLĐTBXH ngày 29/9/2010.
3. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, (2010), Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế về CDIO.
4. Nguyễn Thế Mạnh, (2015),Tiếp cận CDIO trong xây dựng chuẩn đầu ra và phát triển chương trình đào tạo kỹ sư tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định, Đề tài cấp cơ sở.
5. Đỗ Thế Hưng, (2015), Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo giáo viên kĩ thuật trình độ đại học, LATS.
6. Vũ Xuân Hùng, (2016), “Giải pháp hội nhập ASEAN về Giáo dục nghề nghiệp”, Tạp chí Nghề nghiệp và cuộc sống, số 75, tháng 01/2016.
7. Quốc hội nước Cộng hòa XHCNVN, (2014), Luật Giáo dục nghề nghiệp, Nxb Sự thật, Hà Nội.
8. Edward F CraWley – Massachuselts Institute of Technology, Cải cách và xây dựng chương trình đào tạo kỹ thuật theo phương pháp tiếp cận CDIO, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Hồ Tấn Nhựt và Đoàn Thị Minh Trinh biên dịch.
9. http://www.cdio.org/cdio-organization

ThS. Nguyễn Thế Mạnh - Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
Bài viết đăng trên tạp chí Khoa học dạy nghề số 37+38 tháng 10+11/2016

Last modified on Thứ hai, 12 Tháng 12 2016
  • Bình luận
  • Đọc 1133 lần

Thông tin NIVET

Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Ghi rõ nguồn "Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (NIVET)" hoặc http://www.nivet.org.vn khi phát hành lại thông tin từ nguồn này.

Copyright © 2016 Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp

Thông tin liên hệ

  • Trưởng Ban biên tập: TS. Vũ Xuân Hùng - Viện trưởng

  • Tầng 14, Tòa nhà Liên cơ quan Bộ LĐTB & XH, Khu D25, Số 3, ngõ 7, đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. vàThis email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

  • Điện thoại : (+84) 2439745020 - Fax: (+84) 2439745020

Bản đồ